Xây dựng bộ chỉ số đầu tiên đo tâm lý tự tin của nhà đầu tư ở Việt Nam
Công ty Chứng khoán và Đầu tư Tài chính Woori (Hàn Quốc) và Công ty Chứng khoán WOORI CBV vừa hợp tác xây dựng bộ chỉ số đầu tiên đo tâm lý tự tin của nhà đầu tư ở Việt Nam.
Bộ chỉ số Vietnam Investor Confidence Index® đo tâm lý tự tin đối với thị trường cổ phiếu Việt Nam của các nhà đầu tư trong nước cũng như nhà đầu tư nước ngoài. Được xây dựng bởi sự kết hợp giữa Công ty Chứng khoán và Đầu tư Tài chính Woori và Công ty Chứng khoán WOORI CBV, chỉ số này sử dụng những nguyên tắc của lý thuyết tài chính hiện đại để xây dựng mô hình hành vi rủi ro của nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài khi đầu tư vào thị trường cổ phiếu Việt Nam. Không giống với những chỉ số khác được xây dựng dựa trên khảo sát thị trường thăm dò dự báo của nhà đầu tư về giá cả và lợi nhuận trong tương lai, chỉ số này có mốc 100 điểm mà tại đó sự tự tin của nhà đầu tư là “trung lập”, lớn hơn 100 điểm khi nhà đầu tư có tâm lý tích cực và thấp hơn 100 điểm khi tiêu cực. Chỉ số này được ví như nhiệt kế đo tâm lý tự tin của nhà đầu tư Việt Nam cũng như nhà đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán Việt Nam.
Các nhà đầu tư cá thể và nhỏ lẻ vẫn chiếm ưu thế trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Chỉ số Vietnam Investor Confidence Index® có mốc “trung lập” ở 100 điểm, trên mức này sẽ cho chúng ta biết nhà đầu tư đang phân bổ tài sản nhiều hơn vào cổ phiếu, dưới mức này sẽ ám chỉ rằng nhà đầu tư đang phân bổ ít hơn. Trong tháng 05 năm 2009 vừa qua, chỉ số Vietnam Investor Confidence đã tăng lên 109.09 minh chứng cho niềm tin đã trở lại của nhà đầu tư trong nước với tâm lý chấp nhận rủi ro sau 8 tháng gián đoạn. Đây là một dấu hiệu rất tốt cho thị trường chứng khoán Việt Nam.
Nhìn sang phía nhà đầu tư nước ngoài, chỉ số Vietnam Foreign Investor Confidence Index đứng ở mức 97.21, cho thấy một lăng kính khác để nhìn nhận tâm lý rủi ro. Trong khi sự chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư trong nước đã tăng đến một điểm nhất định mà ở đó nhà đầu tư Việt đã tự tin hơn khi đưa vào danh mục đầu tư của mình những tài sản có tính chất rủi ro như cổ phiếu, điều đó lại không hoàn toàn đúng đối với những nhà đầu tư ngoại. Mặc dầu đã phần nào tự tin hơn so với những tháng trước đó, nhà đầu tư ngoại có xu hướng nghiêng về tâm lý “trung lập”.
Phương pháp tính chỉ số Vietnam Investor Confidence Index®
Chỉ số Vietnam ICI không dựa trên kết quả trắc nghiệm thăm dò mà dựa trên phương pháp định lượng một cách khoa học. Chỉ số được tính toán với tỉ lệ 50% dựa trên xu hướng mua vào, bán ra của nhà đầu tư, 50% còn lại dưa trên chỉ số P/E của toàn thị trường chứng khoánViệt Nam so với lãi suất Trái phiếu Chính phủ Việt Nam kỳ hạn 10 năm. Chỉ số này được tính toán định kỳ hàng tháng, để biết thêm chi tiết xin vui lòng xem file đính kèm.
Giới thiệu Công ty Woori Investment & Securities.
Giới thiệu Chứng khoán WOORI CBV.


* Tài liệu tham khảo:
Brochure giới thiệu bộ chỉ số
Woori CBV_Vendor
Tiêu chí và thành phần cho chỉ số VSIndex Quý 2 năm 2010
Tiêu chí và thành phần cho chỉ số VSI-10 và VSI-20 Quý 2 năm 2010
Giới thiệu Bộ chỉ số Niềm tin Người tiêu dùng Việt Nam
Giới thiệu Bộ chỉ số Niềm tin Người tiêu dùng Việt Nam và các cập nhật mới nhất của Bộ chỉ số Niềm tin Người tiêu dùng và Bộ chỉ số Niềm tin Nhà đầu tư Việt Nam.
1. Giới thiệu Bộ chỉ số Niềm tin Người tiêu dùng Việt Nam.
Chỉ số niềm tin người tiêu dùng Việt Nam (tên Tiếng Anh Vietnam Consumer Confidence Index -Vietnam CCI) là một công cụ được thiết kế để đo lường niềm tin người tiêu dùng Việt Nam, đó chính là mức độ lạc quan của họ trong hoạt động tiết kiệm và tiêu dùng.
Hiểu một cách đơn giản, niềm tin của người tiêu dùng tăng đồng nghĩa với tăng trưởng kinh tế trong đó người tiêu dùng đang tiêu dùng với mức cao hơn. Niềm tin của người tiêu dùng giảm ám chỉ rằng người tiêu dùng đang thắt chặt chi tiêu. Như vậy, người tiêu dùng càng cảm thấy lạc quan về nền kinh tế, nghề nghiệp và thu nhập của họ thì họ càng thực hiện nhiều khoản chi tiêu.
Mỗi tháng Woori I&S và WOORI CBV thực hiện khảo sát gần 1,000 hộ gia đình Việt Nam. Khảo sát này gồm 05 câu hỏi đối với đối tượng điều tra như sau:
1. Tình hình tài chính hiện tại của gia đình
2. Tình hình tài chính của gia đình trong 12 tháng tới
3. Điều kiện cho hoạt động thương mại trong 12 tháng tới
4. Tình hình kinh tế trong 05 năm tới
5. Điều kiện mua sắm hiện tại của gia đình
Các giá trị chỉ số cho 05 câu hỏi sau đó được bình quân hóa để xây dựng Chỉ số Niềm tin Người tiêu dùng Việt Nam (Vietnam Consumer Confidence Index-Vietnam CCI); mức trung bình của giá trị chỉ số cho câu hỏi 01 và 05 tạo nên Chỉ số Điều kiện Hiện tại của Người tiêu dùng Việt Nam (Vietnam Consumer Present Condition Index-Vietnam CPCI); mức trung bình của giá trị chỉ số cho câu hỏi 02, 03 và 04 tạo nên Chỉ số Kỳ vọng Tương lai của Người tiêu dùng Việt Nam (Vietnam Consumer Future Expectations Index-Vietnam CFEI). Dữ liệu này được tính toán đại diện cho toàn Việt Nam.
Chỉ số Niềm tin Người tiêu dùng này dao động từ 200 (tất cả người tiêu dùng tỏ ra tích cực với 05 công cụ đo) đến 0 (tất cả người tiêu dùng tỏ ra tiêu cực với 05 công cụ đo). Chỉ số có giá trị 100 được coi là trung lập, nghĩa là người tiêu dùng không lạc quan mà cũng không bi quan. Chỉ số này là kết quả hợp tác của công ty chứng khoán lớn nhất Hàn quốc, Công ty TNHH Chứng khoán và Đầu tư Woori, và Chứng khoán WOORI CBV.
2. Cập nhật mới nhất của Bộ chỉ số Niềm tin Người tiêu dùng và Bộ chỉ số Niềm tin Nhà đầu tư Việt Nam.
Nhìn chung, chỉ số niềm tin người tiêu dùng và bộ chỉ số niềm tin nhà đầu tư Việt Nam đều cao và đặc biệt cao trong Quý 3 và tháng 6 năm 2009. Bảng biểu 1 dưới đây trình bày các thông số cụ thể trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đối với mỗi chỉ số:
Bảng biểu 1
Bảng biểu 1 chỉ ra rằng người tiêu dùng Việt Nam rất lạc quan về tương lai khởi sắc, đặc biệt là nền kinh tế Việt Nam trong năm tới và 05 năm tiếp theo; niềm tin này thậm chí cao còn hơn nhiều so với các quốc gia khác trên thế giới, kể cả đối với nền kinh tế phát triển cao như Hoa Kỳ.
Nhờ có sự hỗ trợ của gói kích cầu của Chính phủ nên kinh tế Việt Nam đã có rất nhiều khởi sắc. Chỉ số niểm tin của nhà đầu tư và người tiêu dùng so với các tháng trước đã tăng cao hơn rất nhiều. Tuy nhiên, do những tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, người tiêu dùng Việt Nam hiện đang chi tiêu ít hơn, nhưng họ thể hiện niềm tin và sự lạc quan trong tiêu dùng nhiều hơn trong trung hạn và dài hạn.
Bảng biểu 1 cho thấy nhà đầu tư Việt Nam hoàn toàn lạc quan với việc đầu tư vào thị trường cổ phiếu Việt Nam do chỉ số P/E so với lợi tức Trái phiếu kho bạc nhà nước kỳ hạn 10 năm là rất cao. Cả nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào cổ phiếu trong tháng 6 ít hơn trong tháng 5, nhưng các nhà đầu tư đều tỏ ra rất lạc quan trong trung hạn và dài hạn. Sự lạc quan của khối nhà đầu tư ngoại kém hơn khối nhà đầu tư nội.
Hiểu một cách đơn giản dựa trên Bảng biểu 1, ta sẽ có các dự báo sau:
Bảng biểu 2
Tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng có mối quan hệ với nhau. Sự giảm (tăng) đầu tư và tiêu dùng thường đồng nghĩa với sự tăng (giảm) tiết kiệm. Điều này được hiểu là trong ngắn hạn, người tiêu dùng muốn tránh chi tiêu, và nhà đầu tư muốn tránh đầu tư vào các khoản mạo hiểm như cổ phiếu, và cả hai muốn duy trì mức rủi ro thấp bằng cách gửi tiền vào ngân hàng hoặc giữ tiền dưới các hình thức an toàn.
Trong ngắn hạn, do các tác động của cuộc khủng hoảng toàn cầu, sự giảm nhẹ của chỉ số niềm tin người tiêu dùng so với mức cân bằng 100 điểm dự báo rằng người tiêu dùng sẽ cắt giảm chi tiêu mua bán lẻ, đặc biệt là những đơn đặt hàng lô lớn yêu cầu số tiền lớn. Nhà sản xuất có thể cắt giảm hàng tồn kho nhằm cắt giảm chi phí của công ty. Các ngân hàng có thể dự đoán trước trong ngắn hạn sự suy giảm của hoạt động cho vay tiêu dùng và việc sử dụng thẻ tín dụng. Trong ngắn hạn, nền kinh tế Việt Nam vẫn cần sự tiếp tục hỗ trợ của Chính phủ trong việc cắt giảm thuế hoặc áp dụng các biện pháp tài chính và tiền tệ để kích thích tăng trưởng của nền kinh tế.
Ngược lại, trong trung và dài hạn, xu hướng tăng của niềm tin người tiêu dùng sẽ thúc đẩy thói quen mua sắm của người tiêu dùng. Nhà sản xuất có thể tăng sản lượng và doanh thu bán hàng. Ngân hàng kỳ vọng nhu cầu tín dụng sẽ tăng. Nhà xây dựng có thể chuẩn bị cho sự gia tăng nhu cầu các công trình nhà ở dân dụng và tổng thuế thu của Nhà nước sẽ tăng lên cao trên cơ sở gia tăng tiêu dùng của người tiêu dùng.
Chúng tôi dự đoán rằng trong ngắn hạn, lãi suất cơ bản sẽ khó thay đổi theo chiều hướng tăng cao, nhưng có xu thế điều chỉnh tăng trong trung và dài hạn.
Phụ lục:
Bộ chỉ số niềm tin nhà đầu tư Việt Nam:
Chỉ số niềm tin nhà đầu tư Việt Nam (The Vietnam Investor Confidence Index®) đo thái độ đối với rủi ro của nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Chỉ số này sử dụng những nguyên tắc của lý thuyết tài chính hiện đại để xây dựng mô hình hành vi rủi ro của của nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường cổ phiếu Việt Nam. Không giống với những chỉ số khác được xây dựng dựa trên khảo sát thị trường tập trung vào giá cả và lợi nhuận trong tương lai, chỉ số này có mốc 100 điểm mà tại đó sự tự tin của nhà đầu tư là “trung lập”, lớn hơn 100 điểm khi nhà đầu tư có tâm lý tích cực và thấp hơn 100 điểm khi tiêu cực. Chỉ số này được ví như nhiệt kế đo tâm lý tự tin của nhà đầu tư Việt Nam cũng như nhà đầu tư nước ngoài đối với thị trường cổ phiếu Việt Nam.
Bộ chỉ số niềm tin nhà đầu tư Việt Nam sẽ cho biết nhà đầu tư kỳ vọng như thế nào về tương lai thông qua hành động thực của họ trên thị trường chứng khoán.
Chỉ số này được tính toán hàng tháng kể từ tháng 01/2007. Bộ chỉ số là kết quả hợp tác giữa Chứng khoán và Đầu tư Woori và Chứng khoán WOORI CBV.
* Tài liệu tham khảo:
Brochure giới thiệu bộ chỉ số
Woori CBV_Vendor
Tiêu chí và thành phần cho chỉ số VSIndex Quý 2 năm 2010
Tiêu chí và thành phần cho chỉ số VSI-10 và VSI-20 Quý 2 năm 2010
Ra đời chỉ số đầu tiên đo sức mạnh Việt Nam Đồng, VND Index
VND Index, chỉ số đầu tiên đo sức mạnh Việt Nam Đồng so với tiền tệ của các đối tác thương mại của Việt Nam.
Chỉ số VND Index hay còn được gọi là Chỉ số Đồng Việt Nam theo tỉ trọng thương mại (Trade Weighted Vietnam Dong Index), là chỉ số tính giá trị Đồng Việt Nam so với đồng tiền của các đối tác thương mại chính của Viêt Nam. Chỉ số này là một công cụ quan trọng để đánh gía sức mạnh toàn cầu của Đồng Việt Nam so với đồng tiền của các quốc gia là đối tác thương mại chính của Việt Nam. Chỉ số này giúp cho những nhà đầu tư tiền tệ biết được giá trị của Đồng Việt Nam và sức mạnh thanh toán quốc tế của nó. Nhà đầu tư tiền tệ (Foreign Exchange) cũng có thể sử dụng chỉ số này để đánh giá giá trị của một ngoại tệ so với Đồng Việt Nam. Chỉ số VND Index là một thông tin tài chính quan trọng không những đối với các nhà đầu tư tiền tệ, mà với cả các nhà quản lý danh mục đầu tư của các công ty quản lý quỹ trong và ngoài nước.
Những đối tác thương mại chủ yếu của Việt Nam trong năm 2008 bao gồm: Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Châu Âu, Singapore, Đài Loan và Hàn Quốc.
Bảy vùng lãnh thổ có đồng tiền được đưa vào chỉ số được lựa chọn dựa trên giá trị xuất nhập khẩu của những khu vực và quốc gia này với Việt Nam:

Nguồn: Bộ Công Thương Việt Nam, tính toán bởi Woori Investment Securities & CBV.
Tổng giá trị xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và 7 vùng lãnh thổ này chiếm trên 70% tổng giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam với thế giới. Tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam năm 2008 là 62.9 tỉ Đô la Mỹ, trong đó giá trị xuất khẩu của Việt Nam tới bảy vùng lãnh thổ này chiếm khoảng 66% tổng giá trị xuất khẩu của Viêt Nam. Tổng giá trị nhập khẩu vào Việt Nam là 79.9 tỉ Đô la Mỹ, trong đó xuất khẩu của bảy vùng lãnh thô này vào Việt Nam là khoảng 74% tổng giá trị nhập khẩu của Việt Nam.
Số lượng các vùng lãnh thổ được chọn vào chỉ số sẽ thay đổi theo từng năm tùy thuộc vào giá trị xuất nhập khẩu của vùng lãnh thổ đó với Viêt Nam so với tổng giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam trong năm đó.
Chỉ số VND Index được chia ra làm hai loại: Chỉ số VND Index Danh Nghĩa, và Chỉ số VND Index Thực. Sự khác nhau giữa hai loại chỉ số này là:
a/ Chỉ số VND Index Thực sử dụng tỷ giá ngoại tệ thực để tính chỉ số, trong khi chỉ số VND Index Danh Nghĩa dùng tỷ giá ngoại tệ danh nghĩa.
b/ Chỉ số VND Index Danh Nghĩa được cập nhật hàng ngày, trong khi chỉ số VND Index Thực được cập nhật 1 tháng 1 lần.

Biểu đồ: Chỉ số VND Index Thực và Danh Nghĩa từ đầu năm 2009 đến nay.
Cả hai chỉ số VND Index Thực và Danh Nghĩa có mốc 100 điểm bắt đầu từ tháng 1 năm 2009. Chỉ số VND Index Danh Nghĩa tăng cao trong hai tháng đầu năm 2009 (với mốc điểm cao nhất là 107.21 điểm), sau đó điều chỉnh trong tháng 3, rồi điều chỉnh nhẹ hơn trong tháng 4 và 5, và chỉ số đi ngang trong tháng 6 và 7.
Chỉ số VND Index Thực tháng tăng cao mạnh trong tháng 2 và 3 năm 2009 (chạm mức đỉnh 106.70 điểm trong tháng 3), sau đó cũng điều chỉnh trong tháng 4, 5 và 6. Hiện tượng này có thể được giải thích bới sự chênh lệch giữa chỉ số CPI ở Việt Nam với chỉ số CPI của các nước đối tác thương mại chính của Việt Nam.
Có thể thấy là thời điểm điều chỉnh trong tháng 3,4 và 5 đã qua. Thời kỳ ổn định đã đến. Đây là một dấu hiệu rất tốt cho sự phục hồi và tăng trưởng bền vững của nền kinh tế Việt Nam.
Bộ chỉ số VND Index được làm bởi sự kết hợp giữa công ty chứng khoán lớn nhất Hàn Quốc là Công ty TNHH Chứng khoán và Đầu tư Woori và Chứng khoán WOORI CBV.
Phương pháp tính chỉ số VND Index là phương pháp giá trị trung bình nhân của tỉ giá ngoại tệ song phương giữa đồng tiền của bảy vùng lãnh thổ và Đồng Việt Nam. Tỉ trọng phần trăm của từng giá trị ngoại tệ được dựa trên số liệu trao đổi thương mại, và được cập nhật thường xuyên. Đối với đồng tiền những nước có tỉ lệ lạm phát chênh lệch với Việt Nam, tỉ giá ngoại tệ thực sẽ phản ánh đúng đắn hơn giá trị của Đồng Việt Nam.
* Tài liệu tham khảo:
Brochure giới thiệu bộ chỉ số
Woori CBV_Vendor
Tiêu chí và thành phần cho chỉ số VSIndex Quý 2 năm 2010
Tiêu chí và thành phần cho chỉ số VSI-10 và VSI-20 Quý 2 năm 2010